Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010
Quyết định số 3235/2004/QĐ-BYT ngày 16/9/2004 của Bộ Y tế
BỘ Y TẾ
Số: 3235/2004/QĐ-BYT
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 16 tháng 09 năm 2004
QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Về việc cho phép áp dụng trên thực địa 5 thử nghiệm kiểm tra nhanh
chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
- Căn cứ Nghị định số 49/2003/NĐ-CP ngày 15/5/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
- Căn cứ Nghị định số 86/CP ngày 08/11/1995 của Chính phủ về việc phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với chất lượng hàng hóa;
- Căn cứ Quyết định số 1052/2002/QĐ-BYT ngày 29/3/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Thường quy kiểm tra nhanh chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm”;
- Xét ý kiến đánh giá các thử nghiệm kiểm tra nhanh chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của Trung tâm Y tế dự phòng các tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ương và đề nghị của Hội đồng đánh giá Bộ kiểm tra nhanh chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm sản xuất tại Việt Nam ngày 04/8/2004;
- Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Khoa học và Đào tạo, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm - Bộ Y tế,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Cho phép áp dụng trên thực địa 5 thử nghiệm kiểm tra nhanh chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (Danh mục kèm theo).
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo.
Điều 3. Các ông (bà): Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Đào tạo, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, Thủ trưởng Y tế các ngành chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
KT. BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
THỨ TRƯỞNG
Trần Chí Liêm
DANH MỤC 5 THỬ NGHIỆM KIỂM TRA NHANH
CHẤT LƯỢNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
(Kèm theo Quyết định số 3235 /2004/QĐ-BYT ngày 21 tháng 9 năm 2004
của Bộ trưởng Bộ Y tế)
TT
DANH MỤC
NƯỚC SẢN XUẤT
1
Phát hiện nhanh phẩm màu kiềm (không được phép áp dụng) trong thực phẩm
Việt Nam
2
Phát hiện nhanh Nitrit trong thực phẩm
Việt Nam
3
Phát hiện nhanh Nitrat trong thực phẩm
Việt Nam
4
Phát hiện nhanh chất lượng dầu mỡ bị ô xy hóa bằng phản ứng Kreiss
Việt Nam
5
Phát hiện nhanh hàm lượng đường Saccaroza trong thực phẩm lỏng có đường
Việt Nam
Ăn sữa chua, giảm 40% nguy cơ ung thư bàng quang
< equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">< name="ProgId" content="Word.Document">< name="Generator" content="Microsoft Word 12">< name="Originator" content="Microsoft Word 12">
Ăn sữa chua, giảm 40% nguy cơ ung thư bàng quang
Một công trình nghiên cứu mới đây cho thấy, ăn sữa chua hàng ngày sẽ giúp giảm tới 40% nguy cơ ung thư bàng quang so với những người ít ăn hay không bao giờ ăn sữa chua.
Qua cuộc khảo sát khoảng 800.000 bệnh nhân, kéo dài tới 9 năm của Viện nghiên cứu Karolinska (Stockholm, Thụy Điển). Các nhà khoa học đã so sánh chế độ dinh dưỡng với nhóm đối chứng không mắc bệnh ung thư bàng quang. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nutrition của Mỹ cho thấy, việc ăn 2 hộp sữa chua mỗi ngày sẽ giúp giảm 45% nguy cơ mắc ung thư bàng quang ở phụ nữ và 36% ở đàn ông.
Trong sữa chua có chứa các vi khuẩn lên men rất có lợi cho sức khỏe. Ngoài ra, những người ăn sữa chua thường xuyên cũng là những người có ý thức và biết chăm sóc sức khỏe bản thân tốt hơn những người không ăn sữa chua.
Lan Thu (Theo ABC new)
Công tác y tế chuẩn bị sẵn sàng phục vụ Hội nghị ASEAN
Công tác y tế chuẩn bị sẵn sàng phục vụ Hội nghị ASEAN
Chiều ngày 16/3, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến - Phó trưởng tiểu ban An ninh - Y tế đã chủ trì hội nghị tập huấn cho các đơn vị phục vụ Hội nghị ASEAN 16 vào đầu tháng 4/2010. Thứ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã đánh giá cao công tác chuẩn bị của các đơn vị. Tuy nhiên, Thứ trưởng cũng yêu cầu các đơn vị rà soát lại công tác chuẩn bị danh mục thuốc, phòng bệnh, trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh, cấp cứu...; Đẩy mạnh kiểm tra công tác đảm bảo ATVSTP tại các địa điểm diễn ra hội nghị cũng như nơi ở của quan khách để đảm bảo phục vụ tốt nhất về công tác y tế cho hội nghị.
Tăng cường hoạt động kết hợp quân dân y
Tăng cường hoạt động kết hợp quân dân y
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu vừa ký ban hành Chỉ thị về thực hiện công tác quốc phòng trong ngành y tế năm 2010. Theo đó, Bộ trưởng yêu cầu các đơn vị trực thuộc Bộ, trực thuộc Sở Y tế duy trì lực lượng tự vệ theo qui định của Luật Dân quân tự vệ và hướng dẫn của cơ quan quân sự địa phương; Phối hợp với cơ quan quân sự địa phương thường xuyên rà soát, củng cố, bổ sung phương án chiến đấu bảo vệ cơ quan, kế hoạch phòng chống cháy nổ, phòng chống bão lụt, tìm kiếm cứu nạn... đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực trước, trong, sau đại hội Đảng các cấp diễn ra... Xây dựng kế hoạch hoạt động quốc phòng, kết hợp quân dân y theo chỉ đạo của liên Bộ Y tế - Bộ Quốc phòng, UBND tỉnh/TP...; Tăng cường hoạt động kết hợp quân dân y, củng cố tiềm lực y tế quốc phòng, giám sát dịch tễ; Đầu tư nâng cấp các trạm y tế xã, bệnh xá, phòng khám đa khoa, bệnh viện kết hợp quân dân y; Tổ chức khám chữa bệnh cho đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc, nạn nhân nhiễm chất độc dioxin kết hợp khám chữa bệnh và làm công tác dân vận khu vực trọng điểm quốc phòng an ninh, góp phần xây dựng thế trận lòng dân khu vực Tây Bắc, Tây Nam, Tây Nguyên, hải đảo...
Thêm 49 cô đỡ thôn bản dân tộc thiểu số về phục vụ đồng bào
Thêm 49 cô đỡ thôn bản dân tộc thiểu số về phục vụ đồng bào
Ngày 16/3/2010, chương trình đào tạo cô đỡ thôn bản kéo dài 18 tháng do Vụ Sức khoẻ sinh sản, Bộ Y tế phối hợp thực hiện cùng Bệnh viện Từ Dũ đã bế giảng. Theo đó có 49 học viên sẽ trở về thôn bản của mình để tham gia hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe, chăm sóc trước, trong và sau sinh cũng như phát hiện chuyển tuyến kịp thời các trường hợp thai phụ có nguy cơ cao.
Mô hình can thiệp thí điểm này được tài trợ bởi Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) và tập trung vào 3 tỉnh Hà Giang, Ninh Thuận, Kon Tum.
Theo ông Nguyễn Duy Khê, Vụ trưởng Vụ Sức khoẻ Bà mẹ trẻ em, Bộ Y tế, mô hình thí điểm đào tạo cô đỡ thôn bản sẽ góp phần tăng tính sẵn có và tính tiếp cận với chương trình làm mẹ an toàn và chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cấp thôn bản, góp phần giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh của đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa.
Cúm A/H1N1 giảm, thêm bệnh nhân cúm A/H5N1 tử vong
Cúm A/H1N1 giảm, thêm bệnh nhân cúm A/H5N1 tử vong
Chiều 17/3, tại cuộc họp Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống đại dịch cúm ở người, TS. Trần Thanh Dương, Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng và Môi trường cho biết, vừa có thêm một bệnh nhân nhiễm cúm A/H5N1 tại TP. HCM. Đó là một bé gái 3 tuổi, ở xã Bình Hòa, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, khởi bệnh ngày 5/3 với triệu chứng sốt, ho, nhập viện tại BV Nhi đồng 2 ngày 10/3 và đến ngày 16/3 có kết quả xét nghiệm của Viện Pasteur TP. HCM khẳng định dương tính với virut cúm A/H5N1. Bệnh nhi đã được đặt nội khí quản, thở máy nhưng do tình trạng bệnh rất nặng, bệnh nhi đã tử vong lúc 2h sáng ngày 17/3. Như vậy, đây là trường hợp thứ 5 mắc cúm A/H5N1 và là ca tử vong thứ 2 do bệnh này ở nước ta kể từ đầu năm đến nay. Cũng theo TS Dương, dịch cúm A/H1N1 lại đang có xu hướng chững lại từ vài tháng nay.
Thông tư số 08/2009/TT-BYT, ngày 01/7/2009, của Bộ Y tế
mục thuốc không kê đơn
THÔNG TƯ Ban hành Danh mục thuốc không kê đơn Căn cứ Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Y tế; Căn cứ Luật Dược số 34/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005; Để đảm bảo an toàn cho người sử dụng thuốc đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh có thể mua thuốc tự điều trị các bệnh nhẹ và triệu chứng thông thường, Bộ Y tế ban hành và hướng dẫn thực hiện "Danh mục thuốc không kê đơn" như sau: Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này "Danh mục thuốc không kê đơn", bao gồm: 1. Danh mục thuốc hoá dược; 2. Danh mục thuốc có nguồn gốc từ dược liệu. Điều 2. Giải thích từ ngữ 1. Thuốc không kê đơn là thuốc khi cấp phát, bán và sử dụng không cần đơn thuốc. 2. Thuốc kê đơn là thuốc nếu sử dụng không theo đúng chỉ định của người kê đơn thì có thể nguy hiểm tới tính mạng, sức khoẻ; khi cấp phát, bán lẻ, sử dụng cho bệnh nhân ngoại trú phải theo đơn thuốc. Điều 3. Nguyên tắc xây dựng "Danh mục thuốc không kê đơn" 1. Danh mục thuốc không kê đơn được xây dựng trên cơ sở các tiêu chí cụ thể về tính chất dược lý và tính an toàn của thuốc. 2. Danh mục thuốc không kê đơn được xây dựng phù hợp với thực tế sử dụng, cung ứng thuốc của Việt Nam và được tham khảo cách phân loại thuốc không kê đơn (Over The Counter - OTC) của một số nước như Australia, Mỹ, một số nước Châu Âu, Philippines, Singapore, Trung Quốc. 3. Danh mục thuốc không kê đơn được sửa đổi, bổ sung hàng năm. Trong trường hợp cần thiết, để đảm bảo an toàn cho người sử dụng, một số loại thuốc có thể bị loại bỏ khỏi danh mục thuốc không kê đơn nếu có những tác dụng có hạinghiêm trọng được phát hiện. Điều 4. Tiêu chí lựa chọn thuốc không kê đơn Thuốc đáp ứng đồng thời các tiêu chí sau được lựa chọn vào Danh mục thuốc không kê đơn: 1. Thuốc có độc tính thấp, không tạo ra các sản phẩm phân huỷ có độc tính, không có những tác dụng có hại nghiêm trọng (là những tác dụng có hại gây hậu quả tử vong, nguy hiểm đến tính mạng, cần phải nhập viện để điều trị hay kéo dài thời gian điều trị, gây tàn tật vĩnh viễn hay nặng nề, sinh con dị dạng, dị tật bẩm sinh và các hậu quả tương đương,...) đã được biết và/hoặc khuyến cáo có tác dụng này. 2. Thuốc có phạm vi liều dùng rộng, an toàn cho các nhóm tuổi, ít có ảnh hưởng đến việc chẩn đoán và điều trị các bệnh cần theo dõi lâm sàng. 3. Thuốc được chỉ định trong điều trị các bệnh thông thường và bệnh nhân có thể tự điều trị, không nhất thiết phải có sự thăm khám, tư vấn và theo dõi của thầy thuốc. 4. Đường dùng, dạng dùng đơn giản (chủ yếu là đường uống, dùng ngoài da) với hàm lượng, nồng độ thích hợp cho việc tự điều trị. 5. Thuốc ít tương tác với các thuốc khác và thức ăn, đồ uống thông dụng. 6. Thuốc không gây tình trạng lệ thuộc. Điều 5. Áp dụng "Danh mục thuốc không kê đơn" 1. Danh mục thuốc không kê đơn là căn cứ để phân loại thuốc không kê đơn và thuốc kê đơn. Thuốc không kê đơn được phép cấp phát, bán và sử dụng không cần đơn thuốc. 2. Danh mục thuốc không kê đơn là cơ sở pháp lý để xây dựng và ban hành các quy định, hướng dẫn đối với thuốc không kê đơn trong đăng ký thuốc, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông phân phối thuốc, thông tin quảng cáo thuốc và phạm vi hoạt động của các cơ sở bán lẻ thuốc. 3. Đối với các thuốc có chỉ định tránh thai được phân loại là thuốc không kê đơn trong Danh mục này, cán bộ y tế phải có trách nhiệm hướng dẫn sử dụng thuốc trước khi cấp, phát hoặc bán cho người tiêu dùng. 4. Các phạm vi áp dụng khác của Danh mục thuốc không kê đơn sẽ được hướng dẫn cụ thể trong các văn bản liên quan. Điều 6. Tổ chức thực hiện 1. Đối với cơ sở bán lẻ thuốc: Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, các cơ sở bán lẻ được phép bán lẻ không cần đơn thuốc đối với các thuốc trong danh mục thuốc không kê đơn. 2. Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc: a) Đối với hồ sơ đăng ký lưu hành thuốc tại Việt Nam và hồ sơ nhập khẩu thuốc chưa có số đăng ký đã nộp tại Cục Quản lý dược trước ngày Thông tư này có hiệu lực, các cơ sở phải tiến hành thực hiện việc phân loại, sửa đổi, bổ sung các tài liệu có liên quan đến việc phân loại thuốc theo quy định tại Thông tư này trước khi xem xét cấp số đăng ký hoặc giấy phép nhập khẩu. b) Đối với các thuốc đã có số đăng ký lưu hành hoặc được phép nhập khẩu trước ngày Thông tư này có hiệu lực: - Các thuốc được sản xuất, nhập khẩu trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực mà đã đưa ra lưu thông trên thị trường thì được phép lưu thông đến hết hạn dùng của thuốc. - Sau 12 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, các cơ sở phải phân loại, cập nhật, bổ sung các thông tin trên nhãn, tờ hướng dẫn sử dụng thuốc liên quan đến việc phân loại thuốc theo quy định tại Thông tư này mới được phép đưa thuốc ra lưu thông trên thị trường. Điều 7. Điều khoản thi hành 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký ban hành. 2. Cục Quản lý dược, các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tổng cụng ty dược Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh dược phẩm, các công ty nước ngoài có giấy phép hoạt động trong lĩnh vực dươc có trách nhiệm thực hiện thông tư này 3. Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề vướng mắc, đề nghị các tổ chức, cá nhân kịp thời phản ánh về Bộ Y tế (Cục Quản lý dược) để xem xét, giải quyết./.
| ||||
|
Báo cáo số 509/BC-BYT, ngày 15/6/2009 của Bộ Y tế
Báo cáo Công tác cải cách hành chính Quý II năm 2009
BỘ Y TẾ Số: 509/BC-BYT | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2009 |
BÁO CÁO
Công tác cải cách hành chính Quý II năm 2009
Kính gửi: Bộ Nội vụ
Thực hiện yêu cầu của Bộ Nội vụ tại công văn số 415/BNV-CCHC ngày 20 tháng 02 năm 2009 về việc báo cáo kết quả công tác cải cách hành chính, Bộ Y tế xin báo cáo tình hình thực hiện cải cách hành chính Quý II năm 2009 như sau:
I. Công tác cải cách thể chế:
1. Tình hình rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về y tế:
Bộ Y tế đang rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về y tế được ban hành trong năm 2009 và xác định danh mục các văn bản hết hiệu lực năm 2009.
2. Về xây dựng và hoàn thiện thể chế trong quản lý nhà nước về y tế:
Trong Quý II năm 2009 (được tính từ 15/3/2009 đến 15/6/2009), Bộ Y tế đã trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật sau:
- Quyết định số 46/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ phụ cấp đặc thù đối với cán bộ, viên chức công tác tại Bệnh viện Hữu Nghị, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện C Đà Nẵng thuộc Bộ Y tế, các Phòng Bảo vệ sức khỏe Trung ương 1, 2, 2B, 3 và 5, Khoa A11 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Khoa A11 Viện Y học cổ truyền Quân đội.
- Quyết định số 52/2009/QĐ-TTg ngày 09/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Kiểm sóat dân số các vùng biển, đảo và ven biển giai đoạn 2009-2020.
- Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg ngày 15/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định chế độ phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn bản.
- Thông tư số 02/2009/TT-BYT ngày 26/5/2009 về việc Hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hoả táng.
3. Về cải cách quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về y tế:
Việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật về y tế nói riêng đã tuân thủ theo đúng Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để cụ thể hóa các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ngày 01/12/2004, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 4278/2004/QĐ - BYT về việc ban hành Quy chế xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về y tế. Qua rà soát cho thấy một số quy định trong Quyết định này đã không còn phù hợp với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Hiện Bộ Y tế đang chờ văn bản hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để cải cách quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về y tế.
4. Đánh giá việc thực hiện đề án 30 tại Bộ Y tế:
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế đã thành lập Tổ công tác thực hiện Đề án 30 của Bộ Y tế gồm 6 cán bộ, trong đó có 4 cán bộ chuyên trách. Bộ Y tế đã hoàn thành đúng thời hạn việc thống kê, điền Biểu mẫu 1 và vào phần mềm máy xén các thủ tục hành chính theo yêu cầu của Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tường Chính phủ. Theo thống kê đến ngày 30/5/2009, có 214 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Y tế, trong đó có 133 thủ tục hành chính do Bộ Y tế thực hiện, 81 thủ tục hành chính do Sở Y tế thực hiện. Hiện nay Bộ Y tế đang tiếp tục rà soát các thủ tục hành chính của các địa phương theo kế hoạch.
II. Công tác cải cách tổ chức bộ máy hành chính:
1. Về tổ chức bộ máy
a. Về thành lập các tổ chức mới:
- Bộ Y tế đã hoàn thiện Tờ trình Thủ tướng Chính phủ số 344/TTr-BYT ngày 15/4/2009 trong đó đề nghị sáp nhập Trung tâm tin học vào Viện Thông tin Thư viện y học Trung ương, thành lập Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Dân số - Y tế, đổi tên các viện có giường bệnh thành Bệnh viện, tổ chức lại Trường Đại học Răng Hàm Mặt và đổi tên một số đơn vị sự nghiệp khác. Triển khai thực hiện Quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 23/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia trực thuộc Bộ Y tế, Bộ Y tế đã bổ nhiệm lãnh đạo Viện (gồm 01 Phó Viện Trưởng cử Quyền Viện Trưởng, và 01 Phó Viện Trưởng), xây dựng Điều lệ tổ chức và hoạt động của Viện.
- Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định số 1877/QĐ-BYT ngày 28/5/2009 về việc thành lập Ngân hàng Mắt, thuộc Bệnh viện Mắt Trung ương - Ngân hàng mô đầu tiên ở Việt Nam thực hiện theo Luật Hiến, ghép mô, tạng và hiến lấy xác và Quyết định số 1878/QĐ-BYT ngày 28/5/2009 về việc thành lập Trung tâm ứng dụng kỹ thuật về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc Cục An toàn vệ sinh thực phẩm.
- Bộ Y tế đang xây dựng đề án thành lập Trung tâm Điều phối ghép bộ phận cơ thể người trực thuộc Bệnh viện Nhi Trung ương; thẩm định đề án thành lập Trung tâm đào tạo của một số bệnh viện, viện (Viện Lão khoa, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương, Bệnh viện Răng Hàm Mặt thành phố Hồ Chí Minh..,)
b. Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các tổ chức, đơn vị thuộc Bộ Y tế.
Bộ trưởng Bộ Y tế ký Quyết định số 1819/QĐ-BYT ngày 25/5/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Cục An toàn vệ sinh thực phẩm và chuẩn bị phê duyệt quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan đại diện của Bộ Y tế tại thành phố Hồ Chí Minh. Bộ đang chuẩn bị ban hành Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định phân công chức năng, nhiệm vụ của các vụ, cục trong việc quản lý các sinh phẩm, bệnh phẩm, mô tạng và Quyết định phê duyệt Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Trung cấp Y tế Đặng Văn Ngữ, thuộc Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương.
c. Đổi mới cơ chế quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp y tế
- Triển khai thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức công nghệ công lập, Bộ Y tế đã tổ chức thẩm định đề án kiện toàn tổ chức và hoạt động của 04 đơn vị (Viện Sốt rét - Ký sinh trùng Côn trùng Trung ương, Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường) và hoàn thiện đề án hoạt động của 03 đơn vị (Viện Dược liệu, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Viện Vệ sinh Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh). Bộ đang đôn đốc để hoàn thiện đề án của 03 viện còn lại (Viện Dinh Dưỡng, Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên, Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh)
- Tiếp tục đôn đốc các đơn vị còn lại xây dựng đề án kiện toàn tổ chức bộ máy theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập.
d. Kiện toàn hệ thống y tế địa phương
- Đã chỉ đạo, tổ chức triển khai kiện toàn hệ thống y tế địa phương theo Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 và Thông tư liên tịch số 12/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 30/12/2008 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, phòng y tế thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm trực thuộc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Đang khảo sát, đánh giá, xin ý kiến các chuyên gia về việc kiện toàn hệ thống y tế địa phương, đặc biệt là y tế tuyến huyện; xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và mối quan hệ công tác và nhu cầu nhân lực của các tổ chức y tế tuyến huyện (phòng y tế, trung tâm y tế huyện, bệnh viện huyện, trạm y tế xã.. ).
2. Về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
a. Về công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức:
- Hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ trong công tác tuyển dụng viên chức, quản lý, sử dụng viên chức. Tiếp nhận và phê duyệt kế hoạch tuyển dụng viên chức của các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ.Giao chỉ tiêu kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức y tế năm2009 cho các đơn vị trực thuộc Bộ. Đã xây dựng kế hoạch biên chế hành chính năm 2009 của Bộ Y tế, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, để bổ sung biên chế hành chính cho các Vụ, Cục của Bộ Y tế.
- Đã thẩm định kế hoạch biên chế sự nghiệp của các đơn vị, ra Quyết định phê duyệt bổ sung biên chế cho các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ. Hoàn thiện thủ tục kiện toàn Lãnh đạo của các Vụ, Cục và lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ.
- Tổ chức tuyển dụng 190 bác sỹ nội trú khoá X (2008 -2011) và các bác sỹ nội trú các khoá trước cho các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế.
- Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Đề án 1816 về luân phiên, luân chuyển cán bộ y tế tuyến trên về tuyến dưới để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.
- Cơ quan Bộ Y tế đã tổ chức 6 lớp tập huấn cải cách hành chính về kỹ năng điều phối trong hoạt động quản lý nhà nước, trong đó 2 lớp cho lãnh đạo các vụ, cục từ cấp phòng trở lên, 4 lớp cho chuyên viên của các đơn vị.
b. Về chế độ chính sách đối với cán bộ
- Hướng dẫn và tổ chức thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với các cán bộ, công chức, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế như: nâng lương thường xuyên, nâng lương sớm, phụ cấp ưu đãi nghề và các chế độ, chính sáchđối với các cán bộ, công chức, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế.
- Tổ chức triển khai Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg ngày 11/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn bản.
- Tổ chức triển khai Quyết định số 29/2008/QĐ-BYT về ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ y tế và cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Xây dựng Phương án giải quyết chế độ nghỉ hưu và kéo dài thời gian công tác đối với công chức, viên chức năm 2009.
- Ban hành Quyết định thành lập Ban soạn thảo xây dựng Đề án trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội của cán bộ y tế.
3. Một số nhận xét về thực hiện cải cách hành chính Quý II/2009
- Việc triển khai thực hiện Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 về nội dung liên quan đến sắp xếp các đơn vị sự nghiệp trụng thuộc Bộ còn chậm.
- Một số đơn vị trực thuộc Bộ còn chậm trong việc xây dựng Đề án/Phương án để thực hiện tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định số 115 và Nghị định số 43 của Chính phủ.
IV. Công tác cải cách tài chính công
1. Tình hình thực hiện cơ chế công khai tài chính
Hàng năm, Bộ Y tế đã thực hiện công khai tài chính theo đúng nội dung, hình thức và biểu mẫu quy định tại Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế công khai tài chính và Thông tư số 21/2005/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quy chế công khai tài chính đối với các đơn vị dự toán ngân sách và các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ. Trong Quý II/2009, Bộ Y tế tiến hành công khai dự toán ngân sách năm 2009 được Chính phủ và Bộ Tài chính giao; công khai phân bổ dự toán chi ngân sách nhà nước và giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách chi tiết theo loại, khoản (giao tự chủ, chưa giao tự chủ); công khai số thu phí, lệ phí, thu khác giao cho các đơn vị dự toán thực hiện.
2. Tình hình thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước
Trong Quý II năm 2009, 05 cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc Bộ (Văn phòng Bộ Y tế, Cục Quản lý Dược, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Cục Y tế dự phòng và Môi trường, Cục Phòng chống HIV/AIDS) vẫn tiếp tục thực hiện Quyết định giao thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính (giai đoạn 3 năm 2007-2009). Tất cả (100%) các cơ quan, đơn vị quản lý hành chính của Bộ Y tế đã được giao dự toán riêng để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính.
Đánh giá tóm tắt về kết quả thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP đối với các đơn vị hành chính trực thuộc Bộ cho thấy các đơn vị đã phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tăng thêm thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, do định mức ngân sách được cấp còn thấp và đặc thù công việc phải đi công tác nhiều (kiểm tra phòng chống dịch bệnh, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, quản lý giá thuốc,...) nên rất khó khăn trong việc bảo đảm đủ kinh phí được giao để chi cho các hoạt động của đơn vị và chi tiền lương tăng thêm cho người lao động.
3. Tình hình thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập:
Trong Quý II năm 2009, 76 đơn vị sự nghiệp y tế trực thuộc Bộ Y tế tiếp tục thực hiện Quyết định giao thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, trong đó có 05 đơn vị được giao thuộc loại hình tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, 62 đơn vị được giao thuộc loại hình tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, và 09 đơn vị được giao thuộc loại hình ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ (Phụ lục danh sách các đơn vị được kèm theo báo cáo này).
Riêng về Quyết định giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế theo Thông tư liên tịch số 02/TTLT-BYT-BNV ngày 23/01/2008 của liên Bộ Y tế - Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, trong quý II năm 2009, Bộ Y tế đã có công văn đề nghị Bộ Tài chính thẩm định để chuyển sang giao cho 04 đơn vị: Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Răng Hàm Mặt Quốc gia thuộc loại hình tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (thay cho việc tự chủ một phần hiện nay).
Thực hiện kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước, Bộ Y tế đang rà soát một số đơn vị có nguồn thu tăng lên nhiều để chuyển sang thực hiện loại hình tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên; một số Viện có chức năng nghiên cứu khoa học là chủ yếu được chuyển sang thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP.
4. Tình hình thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Trong Quý II năm 2009, Bộ Y tế tiếp tục thống kê, rà soát chức năng, nhiệm vụ của 14 Viện phòng bệnh (đã giao thực hiện Nghị định 43 như đã nêu ở mục 3) và một số đơn vị có chức năng nghiên cứu khoa học là chủ yếu để chuyển sang thực hiện theo mô hình giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP.
Hiện đã thẩm định và phê duyệt phương án giao thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP đối với 03 đơn vị (Viện Chiến lược và chính sách Y tế, Trung tâm nghiên cứu sản xuất vắc-xin sinh phẩm y tế và Viện Trang thiết vị và Công trình Y tế). Các đơn vị còn lại sẽ tiếp tục được rà soát để xem xét và quyết định thực hiện theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP trong Quý II năm 2009.
5. Công việc khác liên quan đến cải cách tài chính công:
Bộ Y tế đang tích cực xây dựng Nghị định của Chính phủ về đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập; xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành khung giá nhóm các dịch vụ kỹ thuật y tế; xây dựng dự thảo trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ phụ cấp đãi ngộ thích hợp đối với cán bộ y tế được cử đi luân phiên theo Đề án 1816. Bộ Y tế đang xây dựng và đề xuất các cấp có thẩm quyền ban hành quy định hỗ trợ chi phí ăn, ở, đi lại cho bệnh nhân nội trú (từ tuyến huyện trở lên) theo Quyết định 24,25,26 và 27/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đối với các vùng khó khăn.
6. Kiến nghị, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ về công tác cải cách hành chính.
- Tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức hơn nữa về công tác cải cách hành chính.
- Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện cải cách hành chính tại các bộ, ngành. Đề nghị khen thưởng kịp thời những đơn vị thực hiện cải cách hành chính tốt để khuyến khích các đơn vị khác triển khai thực hiện.
- Đưa nội dung hoạt động của tổ công tác thực hiện Đề án 30 của các Bộ, ngành vào báo cáo hàng tháng, hàng quý của các Bộ, ngành
- Chính phủ xem xét sơ kết đánh giá việc triển khai các Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005, Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ để có thể điều chỉnh kịp thời, xử lý và tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.
Trên đây là báo cáo Quý II năm 2009 về công tác cải cách hành chính ở Bộ Y tế tính đến ngày 15/6/2009, Bộ Y tế xin gửi Bộ Nội vụ để tổng hợp và báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.
Tăng đầu tư cho y tế
Tăng đầu tư cho y tế: Lợi nhiều đường
Ngày làm việc thứ bảy (ngày 27/5) Kỳ họp thứ năm, Quốc hội (QH) khóa XII, các đại biểu QH tiếp tục thảo luận tại Hội trường về Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2008. Nhiều đại biểu QH cho rằng, khoản tiền từ phát hành bổ sung 20.000 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ nên ưu tiên đầu tư nâng cấp cho các cơ sở y tế, giáo dục ở vùng khó khăn.
Tăng đầu tư để giảm tải
Trong lĩnh vực xây dựng và phát triển các cơ sở y tế hiện nay, nhiều đại biểu cho rằng, cần tập trung cho tuyến xã, cụm xã và tuyến huyện. Đây là vấn đề cấp bách và cần thiết, vì thực trạng hiện nay các cơ sở y tế khu vực này đã xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Điều đó vừa gây quá tải cho các bệnh viện tuyến trên, vừa không phục vụ kịp thời việc khám, chữa bệnh cho bà con, nhất là người dân vùng xa xôi, khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đại biểu Nguyễn Thị Kim Tiến phát biểu tại kỳ họp Quốc hội
Đại biểu Nguyễn Thị Kim Tiến (Hà Tĩnh) nhấn mạnh: Việc sử dụng trái phiếu Chính phủ thời gian qua cũng như thời gian tới để đầu tư nâng cấp bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện đa khoa khu vực đối với ngành y tế cho thấy Quốc hội và Chính phủ đã hết sức quan tâm, đưa ra một quyết sách lớn và rất có ý nghĩa đối với phát triển an sinh xã hội nhằm giải quyết tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận với chăm sóc sức khỏe ban đầu ngay tại tuyến cơ sở. Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Kim Tiến cũng đề nghị, do điều kiện kinh tế đất nước còn nghèo nên cần tập trung đầu tư những trạm y tế xã ở vùng núi như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và đặc biệt những trạm y tế xã ở xa bệnh viện huyện. Bên cạnh đó, các bệnh viện chuyên khoa sâu và các bệnh viện đặc thù khó có thể kêu gọi đầu tư của tư nhân như bệnh viện lao, tâm thần, nhi, cho nên trong nguồn trái phiếu sắp tới cũng cần đầu tư, nâng cấp mở rộng các bệnh viện tuyến Trung ương và các chuyên khoa của bệnh viện tuyến tỉnh như Nghị quyết 18 của Quốc hội đã đề ra.
Đại biểu Đỗ Thị Lan (Quảng Ninh) và đại biểu Nguyễn Văn Ba (Khánh Hòa) cũng nhìn nhận, việc phát hành thêm 20 ngàn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ năm 2009 để tăng vốn đầu tư cho các dự án giao thông thủy lợi, các dự án y tế, giáo dục là cần thiết. Hiện nay một số BV chuyên khoa TW luôn quá tải, bệnh nhân nằm cả ngoài hành lang. Một số bệnh viện của tuyến tỉnh thì lại thiếu bác sĩ giỏi, vì vậy cần thiết phải đầu tư nâng cấp bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện, bên cạnh đó cần tăng kinh phí cho việc đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý và y bác sĩ, có quy định chế độ chính sách phù hợp hơn để các y, bác sĩ yên tâm công tác. Ngoài ra để giảm tải cho các bệnh viện tuyến Trung ương, các đại biểu đề nghị Chính phủ xem xét hỗ trợ đầu tư mở rộng quy mô một số bệnh viện chuyên sâu mà bệnh viện tuyến tỉnh chưa đáp ứng được như Bệnh viện K, Bệnh viện Bạch Mai khoa tim mạch, Bệnh viện Lão khoa... hoặc đầu tư xây dựng bệnh viện chuyên sâu khu vực để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Khắc phục tình trạng giải ngân chậm
Trong thời gian qua, sự nỗ lực của địa phương cũng như các Bộ, ngành, đặc biệt là sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của Chính phủ, quý I năm 2009, trong tổng số 14.000 tỷ đồng tổng ngân sách trái phiếu Chính phủ, nâng cấp bệnh viện đa khoa tuyến huyện, đến cuối tháng 4/2009 đã giải ngân 57% và hoàn thành khối lượng tới 71%. Tuy nhiên, một thực tế được nêu lên là việc giải ngân còn chậm, giá cả của thị trường thay đổi, thủ tục về đầu tư cũng như đấu thầu ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện đầu tư, xây dựng bệnh viện.
Một vấn đề nữa được nên lên tại buổi thảo luận là ngoài việc đầu tư mở rộng các bệnh viện chuyên khoa như Bệnh viện Lao, Bệnh viện Tâm thần, Bệnh viện Nhi, nguồn trái phiếu Chính phủ cần đầu tư cho một số trường đại học trọng điểm như ĐH Y Cần Thơ, ĐH Y Hà Nội, ĐH Y - Dược TP.HCM và một số các đại học khác trong việc nâng cấp và xây dựng khu ký túc xá. Các đại biểu kiến nghị nguồn trái phiếu trong quá trình phát hành nên có đánh giá, kiểm tra, giám sát của Quốc hội, Chính phủ và MTTQ.
Hạ Hiền
Đầu tư manh mún, khó giải quyết khó khăn về nhà ở Tại Hội nghị trực tuyến về tình hình triển khai chương trình nhà ở sinh viên, công nhân và người có thu nhập thấp với sự tham gia của 63 tỉnh, thành phố cùng Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và một số doanh nghiệp vừa tổ chức. Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân cho biết, từ khi Nghị quyết 18 của Chính phủ về một số cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo và nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị có hiệu lực, nhiều địa phương và doanh nghiệp đã chủ động chuẩn bị triển khai các dự án với cả 3 mô hình nhà ở, điển hình như: Hà Nội xây dựng nhà ở xã hội tại Khu đô thị mới Việt Hưng; TP. Hồ Chí Minh xây nhà sinh viên tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh; Bộ Quốc phòng, tỉnh Thái Nguyên đã chuẩn bị đủ điều kiện để khởi công một số dự án nhà ở sinh viên trong tháng 6 tới; Công ty Cổ phần Bê tông Xuân Mai (Vinaconex) tiếp tục các dự án nhà ở cho người có thu nhập thấp tại Xuân Mai và Vĩnh Yên. Tuy nhiên, theo Cục trưởng Cục quản lý Nhà và Thị trường Bất động sản (Bộ Xây dựng) Nguyễn Mạnh Hà, hiện vẫn còn một số địa phương chưa thật sự nhập cuộc, chưa có các dự án cụ thể. Đối với các dự án nhà ở sinh viên, các địa phương mới dừng lại ở giải pháp xây dựng ký túc xá trong khuôn viên cơ sở đào tạo chứ chưa chú ý đến mô hình nhà ở sinh viên tập trung. Trong khi Nghị quyết 18 và Quyết định 65 đã yêu cầu các dự án nhà ở sinh viên phải được đầu tư theo hướng tập trung để trong khoảng thời gian ngắn và với nguồn vốn có hạn mới nhanh chóng giải quyết bức xúc chung về sinh viên trên phạm vi địa bàn. Nếu tiếp tục đầu tư mô hình ký túc xá theo từng trường sẽ manh mún, không đủ các điều kiện về hạ tầng xã hội mà cũng không giải quyết được khó khăn về nhà ở cho sinh viên một cách nhanh chóng. Vì vậy, Bộ Xây dựng cũng đề nghị các địa phương cần xây dựng chương trình nhà ở cho sinh viên theo hướng tập trung tới 80%. Bộ Xây dựng cũng lưu ý các địa phương phải xác định được chủ đầu tư cụ thể của các dự án về nhà ở cho công nhân, người thu nhập thấp để có tính khả thi cao vì các dự án này đều được thực hiện theo phương thức xã hội hóa, huy động nguồn lực cụ thể của doanh nghiệp Theo báo cáo tập hợp từ 16 tỉnh, thành phố và hai Bộ Quốc phòng và Công an, giai đoạn 2009 - 2015 sẽ khởi công 107 dự án nhà ở cho sinh viên với tổng diện tích sàn xây dựng đạt 2.774.266m2, giải quyết chỗ ở cho 439.000 người và nhu cầu đầu tư từ nguồn trái phiếu khoảng 16.369 tỷ đồng. Giai đoạn này cũng đầu tư xây dựng 30 dự án nhà ở công nhân khu công nghiệp với tổng diện tích sàn 813.500m2 để giải quyết chỗ ở cho 135.500 lao động. Mạnh Hùng |
Cách bổ sung canxi
Canxi chiếm 1,5 – 2% trọng lượng cơ thể, trong đó 99% tồn tại trong xương, răng, móng tay, móng chân, chỉ có 1% tồn tại trong máu, trong tổ chức tế bào và dịch ngoài tế bào nhưng vai trò của nó lại vô cùng quan trọng, nhất là đối với trẻ em. Khi thiếu canxi, trẻ bị còi xương, răng không đều, chất lượng răng kém và bị sâu răng.
Cách bổ sung canxi
Canxi chiếm 1,5 – 2% trọng lượng cơ thể, trong đó 99% tồn tại trong xương, răng, móng tay, móng chân, chỉ có 1% tồn tại trong máu, trong tổ chức tế bào và dịch ngoài tế bào nhưng vai trò của nó lại vô cùng quan trọng, nhất là đối với trẻ em. Khi thiếu canxi, trẻ bị còi xương, răng không đều, chất lượng răng kém và bị sâu răng.
Những biểu hiện thường gặp ở bệnh còi xương: trẻ quấy khóc, ngủ không ngon giấc, ra nhiều mồ hôi, tóc rụng thành đường hình vành khăn sau gáy, ra nhiều mồ hôi khi ngủ (mồ hôi trộm), thóp chậm liền, đầu bẹt, lồng ngực dô, chân vòng kiềng hoặc chữ bát là những di chứng của còi xương nặng. Ở trẻ lớn hơn (tuổi mẫu giáo và học sinh cấp I) thường có những biểu hiện mệt mỏi, biếng ăn, gầy yếu, chóng mặt, đổ nhiều mồ hôi, ngủ không ngon giấc... đó chính là những biểu hiện của bệnh còi xương ở lứa tuổi thiếu niên nhi đồng. Sau một thời gian bị thiếu canxi thì chân tay các cháu bị tê mỏi, chóng mặt, cơ trơn của hệ tiêu hóa co bóp yếu nên trẻ thường chán ăn, táo bón. Trẻ em ở tuổi 9 – 16 tuổi vẫn có nguy cơ bị thiếu canxi, trẻ thường có các biểu hiện mệt mỏi, lười biếng, uể oải, ra nhiều mồ hôi, bứt rứt chân tay, hay cáu bẳn, ngủ không ngon giấc. Nguyên nhân của thiếu canxi là do các cháu suốt ngày ngồi trong lớp học, thời gian hoạt động ngoài trời quá ít, thiếu ánh nắng, các bữa ăn không cung cấp đủ lượng canxi, cho nên các bậc cha mẹ vẫn cần chú ý bổ sung canxi cho các cháu ở lứa tuổi này. Ở trẻ em còn gặp chứng “đau xương do tăng trưởng” cũng liên quan đến thiếu canxi với các biểu hiện: ban ngày trẻ chạy nhảy, vận động bình thường, đêm đến thì kêu đau chân là do ban đêm hormon tăng trưởng tiết ra nhiều hơn, hormon này được chuyển vào máu rồi chuyển đến xương kích thích xương phát triển, khi thiếu canxi, sự tăng trưởng, giãn nở của xương bị trở ngại, tác động đến màng của xương gây đau, nếu kịp thời bổ sung đầy đủ canxi cho trẻ thì sẽ hết đau.
Có những trẻ em thường bị đau bụng đột ngột khi ăn sáng, hoặc đau bụng vào ban đêm. Các nguyên nhân hay gây đau bụng ở trẻ em như đau bụng giun, đau bụng do các bệnh của đường tiêu hóa nhưng không tìm được nguyên nhân. Nếu trẻ đau bụng không kèm theo nôn, sốt, đau thành từng cơn, không dùng thuốc mà vẫn tự khỏi thì có khả năng đau bụng do thiếu canxi. Thiếu canxi khiến cho thần kinh của đường tiêu hóa bị hưng phấn cao độ, các cơ trơn của đường tiêu hóa bị co rút làm cho trẻ đau bụng, nếu được bổ sung canxi thì trẻ sẽ hết đau.
Ngoài ra, canxi còn có vai trò khác như tham gia vào hệ thống miễn dịch. Canxi giữ vai trò dẫn truyền thông tin giúp tế bào bạch cầu phát hiện ra, bao vây, tiêu diệt vi khuẩn và các độc tố gây bệnh, cho nên trẻ bị thiếu canxi thường hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu hóa. Canxi còn tham gia vào quá trình đông máu, giảm thiểu máu thấm ra ngoài mao mạch, cho nên có tác dụng hỗ trợ điều trị một số bệnh như: bệnh xuất huyết và dị ứng.
Như vậy canxi có rất nhiều tác dụng, tham gia vào nhiều hoạt động của cơ thể, khi thiếu thì gây ra nhiều chứng bệnh ở trẻ em. Trong các loại thức ăn hằng ngày, sữa là loại có chứa nhiều canxi nhất, sau đó là các thực phẩm như tôm, cua, cá nhưng phải ăn kho nhừ cả xương, còn lại các thực phẩm khác hàm lượng canxi rất thấp cho nên trẻ em không được bú mẹ hoặc ăn sữa ít, trẻ lớn không chịu uống sữa, ít ăn tôm, cá thì không thể đáp ứng đủ lượng canxi cho nhu cầu cơ thể. Vì vậy cần phải bổ sung canxi dưới dạng thuốc. Khi mua canxi cần phải chọn các sản phẩm canxi dễ hấp thu, không gây kích ứng dạ dày ruột, ít gây tác dụng phụ, tiện lợi sử dụng. Trên thị trường có nhiều loại sản phẩm canxi khác nhau, với nhiều hàm lượng khác nhau, cho nên các bậc phụ huynh phải cho các cháu uống theo chỉ dẫn của bác sĩ, vì khi uống quá nhiều dẫn đến thừa canxi cũng không tốt có thể gây sỏi thận, tiết niệu, xương cốt hóa sớm làm trẻ bị lùn.